Chúa Nhật XI thường niên - Năm A
SỨ MỆNH CỦA NHÓM MƯỜI HAI
Giáo Hoàng Piô X Học Viện

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Chủ đề “quyền bính" (quyền năng) có được nhắc lại trong đoạn văn này không?

2. Con số 12 ở đây có ý nghĩa gì đặc biệt?

3. Hình ảnh đoàn chiên không người chăn và hình ảnh mùa gặt có phải là do Chúa Giê-su tạo ra không?

4. Phải hiểu thế nào lời Chúa Giêsu ra lệnh cho các sứ đồ đừng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại?

5. Trong Mt, sau Diễn từ về sứ mệnh, ta có thật chứng kiến một chuyến truyền giáo của nhóm 12, như trong Mc và Lc không? Tại sao?

***

1. Với đoạn văn hôm nay, ta vượt qua một giai đoạn quan trọng trong tình thuật Mt. Theo bố cục căn bản của Tin Mừng này, ta đang đến bài huấn thị dài thứ hai của Chúa Giêsu trong bài huấn thị làm thành 5 mốc chủ yếu của Tin Mừng. Sau khi mô tả sự “công chính" mới hay sự trung tín của Nước Trời (ch. 5- 7), và trước khi diễn tả mầu nhiệm" của nó trong các dụ ngôn ở chương 13, tác giả giới thiệu các truyền lệnh sứ của Nước ấy với các huấn thị mà họ nhận được từ Chúa Giêsu. Tất cả đều nằm trong quan niệm sư phạm và thần học của Mt. Ta dễ dàng ghi nhận mối liên hệ về văn chương cũng như về tư tưởng giữa bản văn với những gì đi trước: Nếu các chương 5 đến 7, với phần trình thuật bổ túc là các chương 8 và 9, bị chi phối bởi ý tưởng Chúa Giê-su có quyền bính trong việc giải thích Lề luật và trong mối liên hệ với giáo quyền (Biệt phái)  cũng như quỷ thần (bệnh tật) của thời Người và của dân Người,  thì phần này lại trình bày cho thấy quyền năng đó đã được Chúa Giêsu ban (10, 1) cho sứ đồ Ngài.

2. Thật là đầy ý nghĩa khi Simon được nêu danh trước mọi sứ đồ khác với cái tên thứ hai là Phêrô. Nhưng lâu về sau, Mt mới ghi lại các hoàn cảnh của việc ông nhận tên ấy (16, 18). Đây là một bản danh sách chính thức trong đó tên thứ hai của Simon được ghi vào. Tiếp theo ông, người ta nêu danh hai nhóm anh em (câu chuyện kêu gọi họ đã được ghi lại trên kia, 4, 18- 22), những kẻ mà thời đầu Giáo Hội chắc đã coi như là những người được hiệu triệu trước tiên. Còn các tên khác, Tin Mừng chỉ nêu ra chi tiết về hai người: Matthêô (Lêvi) nhân viên thu thuế, kẻ được gọi khi đang hành nghề (9,9), và Giuđa,  tên phản bội. Tin Mừng thứ tư ghi thêm vài chi tiết liên hệ đến ông Philipphê, Batôlômêô và Tôma nữa (Ga 1 , 43- 51; 6, 5-7; 14, 8- 10). Nhưng từng ấy không đáng kể tí nào. Nên chẳng lạ gì khi thấy về sau người ta đã thêu dệt thêm các dữ kiện ít ỏi đó hầu lắp đầy những lỗ trống lớn của bản văn Tin Mừng. Nhưng tác giả bản văn ta đang nghiên cứu đã không tìm cách thỏa óc hiếu kỳ hay các loại tình cảm đạo đức; ông chỉ muốn mọi cái đều tập trung vào điểm thiết yếu: Chúa Giêsu, Đấng Mê-si-a. Ngay cả những kẻ được trao phận vụ tối thượng là làm sứ đồ cũng chỉ có giá trị nhờ Người, với Người và trong Người mà thôi.

3. Tuy thế, việc đơn giản nêu danh cũng cho ta một vài nhận xét, đặc biệt về thành phần cấu tạo của nhóm Sứ đồ. Có các tên Hy lạp và Do thái cho thấy mấy ông thuộc nhiều miền khác nhau trong xứ Palestin; vài ngư  phủ chất phác đứng bên cạnh một đảng viên đảng cấp tiến tên là Nhiệt Thành (Simon nhiệt.Thành); rồi có môn đồ của Gioan Tẩy giả nữa (Giacôbê và Gioan.). Tóm lại, nhóm thật mang nhiều sắc thái. Rõ ràng là Chúa Giê-su không tìm cách quy tụ quanh mình các phần tử dễ tính và học thức, cũng chẳng muốn liên kết với những kẻ nịnh bợ xu thời. Người phải khổ sở vất vả với họ và hình như đã chẳng thâu lượm mất kết quả khả quan. Tuy nhiên, ngày họ thực sự hoán cải và lãnh nhận Thánh Thần, họ đã biến thành những nhân chứng sẵn sàng đổ máu, và trở nên cột trụ nền tảng của tòa nhà Giáo Hội.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Thấy dân chúng, Người chạnh lòng thương họ": khởi điểm sứ mệnh tạm thời của nhóm 12 và khởi điểm toàn thể sứ mệnh của Giáo Hội là lòng trắc ẩn của Chúa Giêsu ... Đây là một thứ tình cảm sâu đậm (chữ Hy lạp gợi lên hình ảnh tâm thần xao xuyến) mà Cựu ước đã gán cho chính Thiên Chúa (Xh 34, 6; Tv 103, 8- 13; Tv 103, 8- 13; Hs 2, 2- 3; Gr 31, 20; Is 54, 7) và các Tin Mừng dành riêng cho Chúa Giêsu (Mt 14, 14; 15, 32; 20, 34; Mc 6, 34; 8, 2;  9, 22; Lc 7, 13) hay cho các nhân vật dụ ngôn tượng trưng Người hay Thiên Chúa (Lc 15, 20; Mt 18, 27; x. Lc 10, 35).

"Vì họ bơ phờ vất vưởng như chiên không người chăn giữ” ở đây điều làm Chúa Giêsu âu yếm xót thương là tình cảnh quẫn bách của những đoàn lũ "bơ phờ", "yếu liệt", "nằm sòng sãi ", như một đàn chiên không có chủ chăn. Hình ảnh thôn dã này mượn từ Cựu ước, mà bản văn gần giống nhất là Ds 27, 16-17: Môien thưa với Giavê rằng: Lạy Giavê, xin Ngài đặt một ai đó trên cộng đoàn, để ra trước chúng và vào trước chúng để đem chúng ra và đem chúng vào, hầu cộng đoàn của Giavê khỏi như chiên không người chăn giữ ". Đàn chiên của Thiên Chúa, trong suốt giòng lịch sử, đã từng bị những tên lái buôn "bóc lột và phân tán” (Dcr 11, 7. 11; x. 1 V 22, 17; Gr 23, 1- 2; 50, 6; Ed 34, 1- 10; Is 56, 11); và bây giờ vẫn còn những kẻ hướng đạo đui mù (Mt 15, 14; 23, 16. 24) dùng môn học thuyết sai lạc của họ (16, 12) làm lạc hướng đàn chiên, vẫn còn những hạng chăn thuê vô liêm sỉ làm chiên tan tác (Ga 10, 12tt). Vì thế Chúa Giêsu, chủ chăn vương giả mà Edêkien laon báo (34, 23tt), mục tử tuẫn nạn mà Dacaria đệ nhị đã thoáng thấy mơ hồ (13, 7 = Mt 26, 31), sắp ủy thác cho nhóm 12 trách vụ quy tụ đàn chiên từ mọi chuồng chiên khác (Ga 10, 16) như ngày xưa Môisen đã ủy thác dân cho môn đồ mình là Giosuê chăm nom (Ds 27,17). Đây thật là một vinh dự lớn  lao và cũng là một trách nhiệm nặng nề cho nhóm 12 môn đồ của Môisen mới…

"Mùa màng nhiều, thợ gặt ít”: Mùa gặt là một hình ảnh cổ điển Cựu ước thường dùng để chỉ cuộc Chung thẩm của Thiên Chúa (Is 27, 12; Ge 4, 13 v.v...). Trong. Tân ước mùa gặt này thường phân làm hai, gồm giai đoạn đầu được đánh dấu bởi thời gian của Chúa Giê-su và của Giáo Hội và giai đoạn hay lịch sử chấm dứt, lúc Con Người sẽ thu lúa vào lẫm (Mt 13, 30) và đốt cỏ lùng (13, 30. 41tt): đó sẽ là mùa gặt sau hết (Mc 4, 29; Kh 14, 14tt), là “ngày tận thế" (Mt 13, 39), ngày chung thẩm (25, 31- 46) và bấy giờ thợ gặt sẽ là chính Chúa Ki-tô với các thiên thần của Người (13, 39; x. Kh 14, 14- 19). Nhưng trong khi chờ đợi ngày tận cùng đó, thì kể từ cuộc giáng lâm lần thứ nhất của Chúa Kitô, rõ ràng phải cần một vụ gặt qua sự kiện là đã có sự phân biệt giữa hạt giống tốt và xấu, khi Tin Mừng đòi buộc con người phải tuyên bố theo hay chống Chúa Ki-tô (Mt 10, 13- 16. 40; Ga 3, 18tt). Đấy là công việc chuẩn bị trong đó Chúa Giêsu đã đóng vai trò gieo giống (Mt 13, 1- 8ss; 13, 37; Ga 4, 36tt), còn nhóm 12 sẽ là những người thu hoạch.

Chính mùa gặt tiên trưng này là mùa mà nhóm 12, khi thụ hưởng các thành công đầu tiên của Chúa Giêsu, thấy mình được Người ủy thác cho tại Galilê, và chính về nó mà ta có thể áp dụng trước tiên câu nói của Chúa Giêsu trong Gioan: "Thầy đã sai các con đi gặt nơi các con đã không vất vả làm ra: có những kẻ khác đã vất vả rồi, còn các con chỉ đến thừa hưởng công lao của họ" (Ga 4, 38). Tuy nhiên sứ vụ ở Galilê chỉ là mào đầu và là hình ảnh của những mùa lúa chín vàng (Ga 4, 35) và phì nhiêu (Mt 9, 37) mà các sứ đồ cùng bao thợ khác của Tin Mừng, thừa hưởng công lao khó nhọc và hoa quả của hy tế Chúa Giêsu (x. Ga 4, 6; 12, 24), sẽ thu vào lẫm (so sánh Ga 4, 37tt và Cv 8, 15tt) từ ngày Hiện xuống.

“Chữa mọi tật nguyền bệnh hoạn": Ở đây Mt dùng lại cùng những hạn từ đã sử dụng để nói lên quyền năng tràn đầy mà chính Chúa Giêsu đã được trao ban (9, 35); qua cách đó ông cho thấy các sứ đồ hoàn toàn in hệt Người và họ phải trở nên như cánh tay nối dài của Người vậy. Họ sẽ hoàn tất các công thành giống như của Người và sẽ củng cố lời rao giảng của họ bằng cách làm phép lạ. Uy quyền của Chúa Giêsu được chuyển qua cho môn đồ của Người vậy.

"Mười hai sứ đồ ": Đây là lần duy nhất Mt dùng thành ngữ này; nơi khác, ngoài thành ngữ "nhóm 12" (10, 5; 20, 17; 26, 14. 20. 47), ông sẽ viết "12 môn đồ " (10, 1; 11, 1; x. 28, 16) hay các môn đồ " (13, 10; 14, 15; 26, 8. 56 v.v. ..), vì hơn Mc và Lc, Tin Mừng thứ nhất ưa lẫn lộn môn đồ và sứ đồ với nhau. Kiểu nói bất thường của đoạn văn chúng ta sử dụng chữ "sứ đồ" theo chính xác được dùng trong Giáo Hội sơ khai để chỉ nhóm 12 và một vài nhân chứng chính thức khác của việc Chúa phục sinh.

“Đừng lên đường đến các dân ngoại": Mấy chữ này rõ ràng là kiểu nói cổ xưa (như kiểu nói "thành của người Samari" để chỉ tỉnh Samari), có căn ngữ  Aram (kết quả nghiên cứu Schurmann, Cerfàux) cũng chắc chắn phát xuất từ một nguồn trước Mt; và bởi thế ta hiểu được rằng Mc và Lc đã dùng đến vì nể các độc giả lương dân của họ. May thay còn lại các chữ đó, vì chúng là bằng chứng cho thấy các Ki-tô hữu đầu tiên đã xem việc truyền giáo ở Galilê là một sự kiện lịch sử, đáng ghi nhớ. Ông không xem đó như là lời phát biểu một nguyên tắc ngàn đời của việc truyền giáo, vì như vậy mâu thuẫn với mệnh lệnh sau cùng mà ông có ghi lại: các con  hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân" (28, 19), nhưng xem như  là lời diễn tả một kế hoạch tạm thời, mà tất cả thái độ của Chúa Giêsu đã làm chứng cho thấy, một kế hoạch mà theo đó Tin Mừng phải được dành riêng cho "con cái của Vương quốc” (8, 12) Trong một thời gian đầu, nghĩa là cho đến cuộc chiến thắng phục sinh, cái biến cố sẽ tạo nên khí cụ cứu rỗi cho tất cả mọi người, tạo nên chủ đề chính yếu của lời rao giảng và khởi điểm của việc rao giảng khắp vũ hoàn. Mt đã nghĩ rằng độc giả của ông đủ thông minh để phân biệt, trong mớ tài liệu sưu tập của chương 10, cái gì đã chỉ có giá trị đối với việc truyền giáo ở Galilê và cái gì áp dụng được cho mọi thời đại của Giáo Hội.

“Hãy loan báo ... hãy chữa lành”: Việc rao giảng của Chúa Giêsu và của các sứ đồ ở Galilê đã quy hướng cái nhìn của Israel về sự can thiệp dứt khoát cận kề của Thiên Chúa, được hứa thực hiện trong thời sau hết (Is 52, 7; Dcr 14, 9; Đn 2, 44 v.v...). Và các phép lạ cùng các việc trừ quỷ của Chúa Giêsu, đi đôi với lời người rao giảng (Mt 4, 23; 9, 35; Lc 9, 11...) làm nên khởi nguyên (Mt 12, 28; Lc 17, 20) cũng như dấu chỉ của Vương quyền cứu độ này của Thiên Chúa. Đó cũng là vai trò của các phép lạ và việc trừ quỷ do nhóm 12 thực hiện. Ngoài ra Mt còn ghi thêm lệnh phục sinh kẻ chết và tẩy sạch người phung hủi; như thế ông đã đưa ra được bản liệt kê các dấu chỉ thiên sai, cảm hứng từ Is, gần giống với bản liệt kê trong câu Chúa Giêsu trả lời cho Gioan Tẩy giả (11, 4).

Sau này, các sứ đồ sẽ tiếp tục rao giảng Nước Trời (Cv 19, 8; 20, 25; 28, 23. 31), nhưng sẽ thêm vào đó (Cv 8, 12) tên của Đấng đã chết để giải thoát ta khỏi ách kìm kẹp của Satan, tội lỗi và sự chết, đã được tôn phong làm Chúa trên trời (Cv 2, 30- 36; Pl 2, 11; Kh 19, 16) và sẽ trở lại hoàn thành Vương quốc (1Cr 15, 20- 28. 50; Cv 3, 21…). Để củng cố lời rao giảng Tin Mừng (Mc 16, 15- 18; Cv 4, 29tt), họ sẽ tiếp tục chữa lành bệnh tật (Cv 3, 1- 10; 5, 15tt; 8, 7; 9, 32- 35; 19, 12), phục sinh kẻ chết (Cv 9, 36- 42; 20, 7- 12), xua trừ ma quỷ (Cv 8, 7; 16, 16) và tỏ ra bất vụ lợi hoàn toàn (1Tx 2, 2- 12; Cv 8, 19tt). Tiếp tục trách vụ của họ, Giáo Hội truyền giáo sẽ không thể tách rời việc rao giảng Tin Mừng với các hoạt động bác ái vô vụ lợi, vì cả hai đều ban phát cho mọi người ơn cứu độ hoàn toàn Chúa Giêsu đã đạt được.

KẾT LUẬN

Chúa Giêsu đã động lòng xót thương đàn chiên bơ vơ lạc lõng trước mặt Người cũng như các con chiên bơ vơ Người thoáng thấy trong muôn thế hệ về sau. Trước khi hiến thân để chỉ con "một đàn chiên, một chủ chiên" (Ga 10, 16), Người đã chọn và sai nhóm 12, thủ lãnh của một dòng dõi những kẻ phục vụ Tin Mừng, để họ rao giảng Tin Mừng, xua đuổi Tà thần, chữa lành bệnh tật, nghĩa là ban phát cho toàn thể con người ơn cứu độ mà Người đã tạo được nhờ lao nhọc gieo vãi và cứu chuộc Giáo Hội, thành thánh đặt cơ sở trên 12 móng, mỗi móng mang tên của một trong 12 sứ đồ của Con Chiên (Kh 21,14), có trách vụ tiếp tục cho đến tận thế sứ mệnh rao giảng Tin Mừng và ân cần chăm sóc hết những ai đau khổ. Nhưng vì thợ gặt ít, nên Chúa Giêsu xin ta cầu nguyện: Lạy Chúa, xin hãy sai thợ gặt đồng lúa của Ngài !

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Khi hạn định sứ mạng của mình trước tiên cho người Do thái, Chúa Giêsu đã tuân theo một trật tự, một tiến trình cứu rỗi đã được tiên liệu chiếu theo quyết định của Thiên Chúa: bắt đầu từ dân Do thái đi đến dân ngoại. Người đã hiểu sứ mệnh mình như thế và đã nghiêm túc tuân theo. Có lẽ Người đã đau khổ vì sự hạn chế này. Sự vâng phục này nằm trong sự từ bỏ sâu xa và hoàn toàn của Con Thiên Chúa, mà nhờ đó la được cứu chuộc. Giữa bao lao nhọc truyền giáo và mục vụ, ta chớ bao giờ quên rằng: điều quan trọng không phải là số lượng công việc đã làm, đường xa đã đi, số người đã ảnh hường, tính cách bao la của công trình, nhưng là thi hành thánh ý Thiên Chúa trong các giới hạn mà thánh ý Ngài đã ấn định.

2. Thiên Chúa đã muốn cần đến con người để tiếp nối hành động Ngài trong thế gian. Ngài có thể bất cần sự hợp tác đó thế nhưng Ngài đã muốn cho con người tham dự vào cuộc tạo dựng thứ hai (việc rao giảng Tin Mừng làm lại con người một cách khác từ cái chết do tội) sau khi đã kết nạp họ vào cuộc tạo dựng thứ nhất ("Hãy nên đầy dấy trên đất và hãy bá chủ nó ", St 1, 28).

3. Những kẻ Thiên Chúa gọi, thì Ngài gọi cách tự do, chứ không chiếu theo danh nghĩa đặc biệt nào (giai cấp xã hội, quốc tịch, chính kiến, thông minh...). Tuy nhiên Ngài ưa tiên lưu tâm đến những người đơn sơ chất phác, nghèo hèn, ít học... Điều Ngài đòi hỏi là sự cởi mở, quảng đại, sẵn sàng. Nếu có các đức tính đó, Ngài có thể làm những việc kỳ diệu, dù họ vẫn còn nhiều khuyết điểm và yếu đuối của con người.

4. Lòng thương xót trắc ẩn của Chúa Kitô thúc bách Người lắng lo cho các chiên không chủ chăn thời đó. Ngày nay phải chăng đã đổi hoàn cảnh? Không! Đọc bất cứ tờ báo nào, nghe bất cứ đài phát thanh nào, ta đều chứng kiến bao cảnh biểu lộ sự bối rối hay thất vọng trước nỗi khó khăn, phi lý của cuộc đời. Nhìn đám đông trong thành phố, dưới vỉa hè hay trên xe cộ, hình như ta cũng có cùng cảm thức như Chúa Giêsu khi đứng trước đám người Do thái ở Galilê. Đôi lúc chính các Ki-tô hữu ngày nay không còn biết tin tưởng vào ai, theo vị thầy nào. Chúa Kitô sai Kitô hữu đến thế gian để tiếp nối sứ vụ chủ chiên nhân lành của Người bên cạnh con người thế kỷ XX.

5. Vào mỗi thời kỳ khó khăn hay chuyển hướng của lịch sử Giáo Hội, thì chủ mùa gặt, để đáp lại lời cầu xin của biết bao người hèn mọn, yếu đuối, vô danh, đã luôn làm chỗi dậy nam nữ sứ đồ. Những kẻ này xuất hiện như là những vị giảng đạo của thời đại, những chứng nhân cho một Vương quốc duy nhất có thể biểu lộ sức mạnh của mình bằng nhiều cách. Nhưng chỉ nhờ lời cầu nguyện mới có các chứng nhân đó.